Chào mọi người. (Chào Sư Phụ.) Chúc mừng năm mới, chúc vui vẻ. (Chúc mừng năm mới.) Cát tường. (Chúc mừng năm mới.) (Cát tường.) Cát tường, cát tường nha. Tôi bảo quý vị ngồi dưới mái che đó mà quý vị không chịu. Quý vị thích nước cam lồ hả? Vừa lạnh vừa ẩm ướt. Lúc đầu, tôi có nói với họ: “Tháng Hai đừng tổ chức thiền thất, sẽ rất lạnh đó”. Họ nói với tôi: “Không đâu, Thưa Sư Phụ, tháng Hai là mùa xuân mà”. Theo tôi thấy thì ở đây, tôi là người duy nhất đại diện cho mùa xuân. Hôm nay là mồng Một, (Dạ.) nên tôi mặc đồ hoa hòe một chút, để quý vị có chút hương vị mùa xuân. Ngồi thiền có tốt không? (Dạ tốt.) Quý vị chê cái mái đó, phải không? Thích ngồi ở đây à. Có bị ẩm không? Có bị ướt mưa không? (Dạ không.) Không à? Sao giỏi vậy. (Chúng con có dù ạ.) Có dù à? (Dạ.) À, tội nghiệp quá. Nhưng chính quý vị thích vậy mà, đúng không? (Dạ đúng.) Thích thế nào thì có thế đó thôi.
Hôm nay tôi kể quý vị nghe một câu chuyện Trung Hoa nhé. Lại là truyện Trung Hoa, quý vị đều biết rồi. Thật ra hôm nay vẫn chưa đến lúc, phải đến mồng Ba tháng Ba. Quý vị có biết ngày “Tết Thanh Minh” không? (Dạ biết.) Có phải gọi là “Tết Thanh Minh” không? (Dạ phải.) Giới Tử… Giới Tử gì nhỉ? (“Tiết Thanh Minh mưa rơi lất phất Người đi đường lòng buồn tái tê”.) Tôi biết rồi. Nhưng cái người chết đó, tên là gì? (Khuất Nguyên.) Không phải. Khuất Nguyên là một người khác. Ông ấy là Giới Tử… gì nhỉ? (Thôi.) Giới Tử Thôi, đúng rồi. Nhưng tôi cũng không trách quý vị. Tại vì ở Trung Quốc có quá nhiều người tốt mà. Đúng không? (Dạ đúng.) Cho nên chúng ta không nhớ hết được, không thể nhớ hết được. Tuy chưa tới ngày lễ ông ấy, nhưng thấy sao trời lạnh lạnh, sẵn dịp tôi kể câu chuyện này luôn.
Ông là một người rất tốt, tốt đến mức người Trung Hoa, vào ngày mùng Ba tháng Ba… Có phải mùng Ba tháng Ba không? (Tháng Tư, mùng Năm tháng Tư.) Tháng Tư à? (Mùng Năm tháng Tư.) Ồ! Không phải. Mùng Năm tháng Tư, chắc là theo dương lịch. (Dạ đúng.) Vậy mùng Ba tháng Ba là theo dương lịch à? (Là âm lịch.) À, âm lịch, đúng rồi. Mùng Ba tháng Ba là theo âm lịch. (Dạ đúng.) Ờ, tôi đang nói mùng Ba tháng Ba. Còn mùng Năm tháng Tư… không biết lúc đó tôi còn ở đây không, nên thôi tôi kể trước vậy. Nếu quý vị cảm thấy còn chưa đúng lúc, thì chờ ra băng thâu hình, và chờ đến mùng Ba tháng Ba đem ra coi. Hoặc là mùng Năm tháng Tư. Tôi nghĩ sang năm, chúng ta đừng tổ chức thiền thất vào tháng 2 hay tháng 12 nữa. Quý vị thấy sao? (Dạ ổn ạ.) (Dạ không sao.) Không sao à? (Dạ.) Tôi sợ quý vị sẽ bị lạnh quá. (Dạ không lạnh.) Hôm nay còn đỡ, hôm qua là 10 độ C. Quý vị biết không? (Dạ biết.) “Mười độ” nghĩa là sắp “chết” rồi (chơi chữ tiếng Hoa giữa “mười” và “chết”).
Bây giờ chúng ta nói về người tên Giới Tử Thôi này nhé. Quý vị đều biết rõ ông ấy là ai, đúng không? Ngày xưa có một vị vua. Trước khi lên ngôi, ông bị đối phương đuổi giết. Là Công tử… Trùng Nhĩ, phải không? Có phải ông tên là Trùng Nhĩ không? (Dạ phải.) Ừ. Ông cùng một số trung thần tận tụy đã phiêu bạt khắp nơi, lưu vong xứ người, đời sống rất là cực khổ. Có lúc họ không đủ ăn, không có chỗ ngủ, v.v. Có một hôm, họ không còn gì để ăn, và tiền bạc cũng hết. Tiền đã hết sạch. Họ buộc phải đi xin ăn như người hành khất, nhưng ngay cả vậy họ cũng thường không có gì để ăn. Bởi vì đôi khi, người Trung Hoa dĩ nhiên là rất tốt bụng, rất lương thiện, nhưng khi thấy một đoàn người ai nấy đều lành lặn, trẻ trung, diện mạo khôi ngô, tay chân đầy đủ, lại trông rất trang nghiêm, khỏe mạnh, thì sao lại phải đi xin ăn? Cho nên, nhiều người không muốn cho họ. Đó là chuyện đương nhiên. Cho nên họ đều rất đói.
Một ngày nọ, họ đói đến mức toàn thân bủn rủn. Mọi người đều nằm lả ở đó, không còn sức để đi lại được nữa. Công tử Trùng Nhĩ cũng nằm đó, gối đầu lên đùi của một vị trung thần, rồi ngủ thiếp đi. Sau đó, các thuộc hạ đi lùng kiếm khắp nơi tìm một ít rau dại, rồi mang về ăn tạm để lót dạ, cầm cự qua ngày. Nhưng Công tử Trùng Nhĩ lại không nuốt nổi. Có lẽ vì ông sinh ra đã là công tử quý tộc, thuộc dòng dõi hoàng gia, từ nhỏ đã quen ăn sơn hào hải vị. Cho nên dù đã sa cơ lỡ vận đến bước đường này, nhưng khẩu vị của ông cũng không thể sa sút theo được. Khẩu vị của ông không chịu xuống cấp theo cảnh ngộ, nên ông nuốt không vô. Ông chỉ ngồi đó, không thể nào ăn được, khiến cơ thể trở nên rất suy nhược.
Bỗng nhiên Giới Tử Thôi mang đến một bát canh thịt nóng hổi cho ông ăn. Sau khi Công tử Trùng Nhĩ ăn hết bát canh thịt, thì cảm thấy cơ thể khỏe lại và hồi phục sinh lực. Thấy canh ngon, ông hỏi: “Ngươi lấy ở đâu ra loại thịt ngon như vậy?” Giới Tử Thôi chỉ vào chân mình và nói: “Thịt từ chân thần mà ra. Thần đã cắt một miếng cho chủ công ăn. Vì thần nghe nói, bậc hiếu tử khi phụng dưỡng cha mẹ có thể hy sinh thân thể của mình. Còn bậc trung thần, vì lòng trung quân, cũng phải hy sinh thân mình. Hôm nay thấy chủ công đói sắp chết, không có gì để ăn, nên thần buộc phải cắt một miếng thịt ở chân mình để dâng cho chủ công”.
Lòng trung thành đến mức này thì thật là quá mức rồi. Rất hiếm có, phải không? (Dạ phải.) Không biết tôi có thể cắt thịt mình cho mọi người ăn hay không. Không phải là tôi không đành, nhưng mà nó đau quá. Nếu cắt mà không thấy đau thì có thể cắt. Chỉ là quá đau thôi, không phải… Tôi sợ đau, chứ không phải sợ quý vị ăn thịt tôi. Tôi cũng trung thành lắm. Nhưng mà quý vị trì giới rồi mà, phải không? Không ăn thịt mà. Vì tôi biết quý vị trì giới không ăn thịt, nên tôi mới nói như vậy.
Công tử Trùng Nhĩ nghe xong thì vô cùng cảm động, rơi nước mắt. Ông nói với Giới Tử Thôi rằng: “Ân nghĩa này, biết đến bao giờ ta mới có thể báo đáp đây?”
Sau này, khi Công tử Trùng Nhĩ và các bề tôi đã thành công, họ trở về cố hương, đi thuyền trên sông Hoàng Hà. Trong lúc đi thuyền trở về quê hương, một số quan thần từng theo Công tử Trùng Nhĩ bôn ba nhiều năm tháng nhọc nhằn, gian khổ, bắt đầu kể công. Thí dụ như có một lần khi sắp đến nước Tấn, Công tử Trùng Nhĩ bảo thuộc hạ bỏ đi những vật dụng linh tinh. Vì họ đã quen sống gian khổ, nên cái gì cũng giữ lại: nồi vỡ, chén bể, đũa gãy… đều không nỡ vứt đi. Công tử Trùng Nhĩ cười và nói: “Chúng ta sắp về đến nhà rồi, ta cũng sắp làm vua rồi, chúng ta không còn cần đến những thứ này nữa, hãy vứt hết cho rồi”.
Nhưng các thuộc hạ lại bắt đầu kể công, tâu với Trùng Nhĩ rằng: “Chúng thần bôn ba đến tận bây giờ đều là nhờ những thứ hư mẻ này mới sống sót qua ngày. Giờ chủ công sắp làm vua, chưa làm vua mà đã muốn bỏ hết những thứ này. Vậy sau khi trở về rồi, liệu chủ công có quên mất chúng thần, những thuộc hạ cũ này luôn không?” Thế là họ khóc lóc om sòm, sợ rằng nhà vua sẽ có mới nới cũ, nên họ kể công của mình. Nhìn cảnh tượng đó, Giới Tử Thôi thấy những công thần này thật kém cỏi quá, nên ông cảm thấy rất nản lòng. Ông thở dài và nói thầm: “Ta ở cùng những người tham danh lợi như vậy, thật cảm thấy rất xấu hổ”. Từ đó, Giới Tử Thôi cố ý giữ khoảng cách với Công tử Trùng Nhĩ và các thuộc hạ đó.
Sau khi phục quốc, Trùng Nhĩ lên ngôi làm vua, chúng ta đều biết ông được gọi là “Tấn Văn Công”. (Dạ phải.) Ông là Vua nước Tấn. Mọi người đều ở đó chờ được ban thưởng. Những người theo Trùng Nhĩ bấy lâu nay đều mong chờ được thưởng. Chỉ có Giới Tử Thôi, ông vào chúc mừng một câu rồi cáo biệt về quê. Nhiều người theo Trùng Nhĩ lâu năm đều được phong thưởng: người thì được phong quan, người thì được bổng lộc phú quý, người thì được ban đất đai. Rất nhiều người được phong quan, phong vương, phong vị. Chỉ riêng Giới Tử Thôi là không có gì. Ông từ quan về quê, sống an phận thủ thường. Cuộc sống rất khó khăn vì ông rất nghèo, ông phải sửa giày rách cho người khác để kiếm sống qua ngày, để nuôi mẹ già.
Photo Caption: “Hãy Ôm Trọn Thế Gian, Trao Tặng Một Mùa Đông Ấm Áp”











